image banner
image banner
Thông tin, tư liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 10 năm 2026

I. TIN THÀNH PHỐ

 

1. Kỷ niệm 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên về thăm Hải Phòng (20, 21/10/1946 - 20, 21/10/2026)

 

Sau thời gian đi thăm, làm việc dài ngày với nhiều hoạt động đối ngoại và ngoại giao quan trọng tại nước Pháp với tư cách là Thượng khách của Chính phủ Pháp trở về nước bằng đường biển trên Chiến hạm Đuy mông Đuyếcvin cập bến Ngự - Cảng Hải Phòng, lần đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và làm việc với Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố trong 02 ngày 20 và 21/10/1946.

Đúng 16 giờ ngày 20/10/1946, chiến hạm Đuy mông Đuyếcvin đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh cập bến Ngự - Cảng Hải Phòng. Từ Chiến hạm, sau hồi còi dài, Bác xuất hiện trên boong tàu với bộ kaki bạc trắng. Đồng bào Hải Phòng trên bến cảng hò reo, hô vang khẩu hiệu Hồ Chủ tịch muôn năm! Còi tại Nhà hát thành phố dõng dạc cất lên báo tin vui Bác đã về, đặt chân lên đất Cảng. Bác dự lễ chào cờ và duyệt đội danh dự Việt - Pháp (Đội danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam và lục quân, hải quân Pháp). Phần nghi lễ xong, Bác quay lại bến Ngự cám ơn các đoàn đại biểu nhân dân, nhận hoa của Nhân dân thành phố và ôm hôn hai em thiếu nhi chạy tới đón Bác. Tiếng hò reo vang động các đường phố khi xe Bác đi qua. Hình ảnh Người trở về sau chuyến đi dài đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Nhân dân thành phố. Bác về làm việc và nghỉ tại trụ sở Ủy ban hành chính thành phố (Trường tiểu học Minh Khai, Phường Lê Chân hiện nay). 

5 giờ sáng ngày 21/10, Bác dùng xe, bí mật đi một vòng quanh thành phố và tỏ ý khen ngợi phong trào thể dục, rèn luyện thân thể của nhân dân Hải Phòng. 8 giờ, Bác tiếp các đoàn đại biểu một số tỉnh khu vực Duyên hải và Đồng bằng Sông Hồng. Sau đó, Người xuống sân trụ sở Ủy ban hành chính thành phố tiếp các nhân sĩ và đại biểu các đoàn thể thành phố Hải Phòng. Người ký vào sổ vàng của một số đoàn thể, tổ chức. Người ghi trong sổ vàng của Ban bình dân học vụ thành phố: “Ra sức chống giặc dốt cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái”; ghi sổ vàng của Trường huấn luyện thanh niên Tô Hiệu: “Thanh niên đoàn kết/ Gắng học tập/ Gắng công tác/ Tiến lên!/ Tiến lên!”.

10 giờ 15 phút, Người dự mít tinh do Ủy ban hành chính thành phố tổ chức tại vườn hoa bên sông Lấp (khu vực Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật hiện nay). Bác nói về tình cảm đồng bào đối với Bác và của Bác đối với đồng bào trong những ngày Người ở thăm nước Pháp để tìm phương sách giữ nước: “Trong 4 tháng 20 ngày, đồng bào nhớ tôi và tôi cũng trong 4 tháng 20 ngày tôi nhớ đồng bào”. Bác kết thúc buổi nói chuyện bằng một câu thân tình, sâu sắc: “Bây giờ nắng, đồng bào vì đợi tôi đã lâu, khát nước, xin đồng bào trở về gắng sức làm việc cho nước vững vàng”. Sau cuộc nói chuyện, Bác về Hà Nội bằng chuyến xe lửa đặc biệt. Trước khi rời Hải Phòng, Người viết: “Khuyên đồng bào miền bể thực hành đời sống mới, ra sức kiến thiết”.

Trên hành trình xe lửa từ Hải Phòng về Hà Nội của Bác, hàng vạn quần chúng dọc hai bên đường đón chào và lưu luyến tạm biệt Bác. Tàu dừng bánh, Người xuống vẫy chào công nhân và Nhân dân ở ga Lai Khê (huyện Kim Thành, nay thuộc xã Lai Khê), ga Tiền Trung (huyện Nam Sách, nay thuộc phường Ái Quốc) đang tập trung chờ đón Bác. Tàu đến ga Hải Dương (nay thuộc phường Thành Đông), hàng ngàn đồng bào tập trung ở sân ga với một lễ đài dựng tạm cùng nhiều cờ hoa nồng nhiệt chào đón Người. Trên lễ đài, Bác nói chuyện với Nhân dân về tình hình và kết quả đàm phán tại Pháp, về âm mưu của giặc và những khó khăn của đất nước. Bác nói về quyết tâm của Chính phủ và kêu gọi toàn thể đồng bào phải nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết, chuẩn bị tinh thần, lực lượng và vũ khí sẵn sàng chiến đấu nếu kẻ thù bội ước, để giữ bằng được độc lập, tự do cho dân tộc... Cuối buổi, số người đến nghe Bác nói chuyện tăng gấp đôi lúc đầu. Bác căn dặn: Quân dân Hải Dương phải đoàn kết một lòng, nghiêm chỉnh thực hiện Tạm ước 14-9, chuẩn bị lực lượng, tinh thần, sẵn sàng chiến đấu khi Pháp quay lại cướp nước ta lần nữa.

Sau buổi nói chuyện, Bác rời ga Hải Dương về Hà Nội. Khi tàu tới ga Cẩm Giàng, nhiều đồng bào chờ đón, giương cao cờ, biểu ngữ hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm”. Trên tàu, Bác tươi cười chào đáp lại đồng bào.

Trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người đã dành sự quan tâm lớn đối với thành phố, trong đó có 11 lần trực tiếp về thăm và làm việc tại Hải Phòng. Những lời căn dặn của Người qua mỗi chuyến thăm và làm việc đã trở thành định hướng quan trọng, là điểm tựa tinh thần vững chắc để thành phố nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi gian khổ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, mặc dù phải đối mặt với khó khăn, thách thức từ dịch bệnh và thiên tai, Đảng bộ chính quyền, Nhân dân thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương đã phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, chủ động nắm bắt thời cơ, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, đã lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ thành phố Hải Phòng và Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh Hải Dương với nhiều thành tựu vượt trội, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ để chăm lo nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân. 

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Hải Phòng đang đứng trước những thời cơ quan trọng. Những cơ chế, chính sách đặc thù của Trung ương; sự mở rộng không gian phát triển sau hợp nhất; hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện; cùng vị thế ngày càng cao của thành phố trong vùng và cả nước đang tạo nên những điều kiện thuận lợi để Hải Phòng phát triển nhanh và bền vững.

Phát huy truyền thống vẻ vang và những thành tựu đã đạt được, Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân thành phố tiếp tục kiên định con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa mang bản sắc Hải Phòng với việc xây dựng và thực hiện 11 mô hình cụ thể. Chú trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển nền kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế biển hiện đại; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế. Đó không chỉ là nhiệm vụ chính trị trước mắt mà còn là trách nhiệm lịch sử đối với các thế hệ đi trước, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và đối với tương lai của thành phố.

Những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hải Phòng đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân thành phố. Khắc ghi những căn dặn của Bác, Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân Hải Phòng đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống tốt đẹp của “Thành phố Cảng Anh hùng - Xứ Đông văn hiến”, tiếp tục đổi mới tư duy, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, cống hiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; vững bước xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng phát triển hiện đại, văn minh, đi đầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội; trở thành thành phố tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

2. Kế hoạch của Ban Thường vụ Thành uỷ về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới

 

Ban Thường vụ Thành ủy vừa ban hành Kế hoạch số 104-KH/TU, ngày 14/9/2026 thực hiện Kết luận số 58-KL/TW, ngày 26/6/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

 

Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026-2030 như tiếp tục sắp xếp, kiện toàn và hoàn thiện mô hình tổ chức đảng tương ứng với mô hình tổ chức trong hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; rà soát, hoàn thiện quy chế làm việc và mối quan hệ công tác; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo của cấp ủy, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ theo hướng thực chất, hiệu quả; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là các “tế bào”, hạt nhân chính trị của Đảng.

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; xây dựng “hình mẫu người đảng viên trong kỷ nguyên mới”, thực hành “4 kiên định” giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng và lời thề với Đảng. Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; thực hiện tốt công tác quản lý, đánh giá và sàng lọc đảng viên.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các vi phạm; phòng ngừa suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nâng cao nhận thức về xây dựng Đảng trong tình hình mới; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản trị, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy, cán bộ làm công tác xây dựng Đảng. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia xây dựng Đảng. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Kết luận số 58-KL/TW...

Kế hoạch cũng đề ra 05 nhóm chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030, trong đó nhóm chỉ tiêu về tổ chức cơ sở đảng phấn đấu hằng năm, có ít nhất 90% tổ chức cơ sở đảng được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; 100% tổ chức cơ sở đảng được đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ theo tiêu chí, chỉ số cụ thể; trường hợp sinh hoạt hình thức, kéo dài, không khắc phục phải được xem xét, xử lý theo quy định; tỉ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt mô hình "chi bộ bốn tốt", "đảng bộ trực thuộc cơ sở bốn tốt" đạt từ 75% trở lên trên tổng số đã triển khai; 100% tổ chức cơ sở đảng ban hành quy chế làm việc, quy chế phối hợp phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; phấn đấu kết nạp được đảng viên là người dân tộc thiểu số tại các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; hằng năm thành lập từ 45 - 50 tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

Nhóm chỉ tiêu tỉ lệ kết nạp đảng viên hằng năm so với tổng số đảng viên toàn Đảng bộ thành phố từ 3 - 4%, trong đó phấn đấu tỉ lệ kết nạp đảng viên trong khu vực ngoài nhà nước đạt 10 - 15% trên tổng số đảng viên kết nạp mới của địa bàn đô thị; hằng năm kết nạp từ 30 – 35 đảng viên mới là chủ doanh nghiệp tư nhân, người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp; phấn đấu tỉ lệ kết nạp đảng viên là học sinh, sinh viên đạt từ 15 - 20% trong tổng số đảng viên kết nạp mới; đối với các lĩnh vực trọng điểm theo Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW và các lĩnh vực then chốt khác (y tế, giáo dục, văn hoá, an ninh mạng), phấn đấu kết nạp đảng viên có trình độ thạc sĩ, đại học hằng năm giai đoạn 2026 - 2030 tăng ít nhất 1% so với số đảng viên kết nạp bình quân hằng năm giai đoạn 2022 - 2025.

Nhóm chỉ tiêu về chất lượng đội ngũ đảng viên và cấp uỷ viên các tổ chức cơ sở đảng, phấn đấu hằng năm có ít nhất 90% đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; có ít nhất 95% bí thư, phó bí thư cấp uỷ các tổ chức cơ sở đảng có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, trừ tổ chức đảng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và tổ chức đảng ở thôn, tổ dân phố; có ít nhất 95% bí thư cấp uỷ các tổ chức cơ sở đảng có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, trừ bí thư chi bộ ở thôn, tổ dân phố; 100% trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố là đảng viên, ít nhất 97% trưởng ban công tác mặt trận là đảng viên; 100% đảng viên đang công tác được phân công nhiệm vụ cụ thể, gắn với địa bàn, nhóm đối tượng, lĩnh vực phụ trách.

Nhóm chỉ tiêu về chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở đặt ra 100% hồ sơ được số hoá, cập nhật, quản lý trên hệ thống liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hình thành kho dữ liệu lớn của quốc gia đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị; 100% tổ chức cơ sở đảng triển khai và sử dụng hiệu quả ứng dụng "Sổ tay đảng viên điện tử" (trừ tổ chức đảng và đảng viên ở đơn vị đặc thù). Từng bước triển khai Thẻ đảng viên điện tử, Hồ sơ đảng viên điện tử theo lộ trình và hướng dẫn của Trung ương; 100% cơ sở dữ liệu về đảng viên, tổ chức đảng được liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; có từ 80% trở lên thủ tục, nghiệp vụ công tác đảng được số hoá, thực hiện trên môi trường số; có từ 90% trở lên đảng viên tham gia sinh hoạt, học tập trên môi trường số; đến năm 2030 cơ bản hoàn thành mô hình "đảng viên số”, “chi bộ số”, “đảng bộ số” trong Đảng bộ thành phố.

Nhóm chỉ tiêu về quản lý, rà soát, sàng lọc đảng viên đặt ra yêu cầu 100% tổ chức cơ sở đảng thực hiện rà soát, đánh giá thực chất chất lượng đảng viên hằng năm.

3. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

 

Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chương trình hành động số 35-CTr/TU, ngày 31/8/2026 thực hiện Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Chương trình hành động đề ra mục tiêu tổng quát nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và quản trị môi trường của thành phố; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai. Chủ động phòng ngừa, kiểm soát và xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường; cải thiện chất lượng môi trường sống, bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản và sinh kế của Nhân dân; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái.

Gắn chặt bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, chuyển đổi năng lượng, qua đó nâng cao chất lượng, năng suất, sức cạnh tranh của thành phố. Tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai; phát huy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Phấn đấu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố phát triển nhanh, bền vững, có hệ thống quản trị môi trường hiện đại, môi trường sống an toàn, trong lành, hài hòa với thiên nhiên.

Chương trình hành động đề ra các chỉ tiêu chủ yếu thực hiện kết luận số 75-KL/TW đến năm 2030 tại thành phố như: Tỷ lệ chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước trung bình tối thiểu 2% trong giai đoạn 2026 - 2030; 100% nguồn nước thải, khí thải lớn được quan trắc tự động, liên tục; 100% cụm công nghiệp có nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 70% nước thải sinh hoạt đô thị tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% chất thải rắn sinh hoạt tại cả đô thị và khu vực nông thôn được thu gom, xử lý, trong đó tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp dưới 30%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 6,5%; thành lập Khu bảo tồn biển Cát Bà - Long Châu và điều chỉnh ranh giới Khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ; 100% hộ dân thuộc khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn; 100% hộ dân sinh sống ở nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất được di dời đến nơi an toàn; tỷ trọng kinh tế xanh đạt 10% GRDP; tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái đạt 10%; năng lượng tái tạo chiếm 26,5% trong tổng cung năng lượng sơ cấp; giảm 9% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường…

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình hành động đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và Nhân dân, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội, lan tỏa thực hành lối sống xanh, tiêu dùng xanh, bền vững trong cộng đồng, xây dựng văn hóa môi trường. 

Hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát. Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Bên cạnh đó, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường, chủ động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường sống. Bảo tồn thiên nhiên, phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Chủ động thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai, nâng cao mức độ an toàn của người dân và nền kinh tế. 

Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp, tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của quốc gia vào năm 2050 và mục tiêu chuyển đổi xanh của thành phố.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ tái chế; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường và biến đổi khí hậu dùng chung, đồng bộ, liên thông; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và viễn thám trong quản lý, giám sát và cảnh báo sớm.

Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động hợp tác, hội nhập quốc tế, các sáng kiến, thoả thuận và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu về môi trường và khí hậu phù hợp; huy động, tiếp cận, chuyển giao công nghệ xanh, tiên tiến...

Ban Thường vụ Thành uỷ giao Đảng uỷ UBND thành phố lãnh đạo, chỉ đạo UBND thành phố xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 04/8/2026 của Chính phủ và cụ thể hoá Chương trình hành động này. Bên cạnh đó, triển khai định hướng công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hành lối sống xanh, tiêu dùng xanh, bền vững.

4. Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành uỷ về bảo đảm cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2026-2030

 

 

Ban Thường vụ Thành ủy vừa ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 11/9/2026 về lãnh đạo thực hiện các giải pháp bảo đảm cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026-2030

Nghị quyết được ban hành nhằm mục tiêu bảo đảm mọi người dân khu vực nông thôn trên địa bàn thành phố được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với chất lượng ổn định, dịch vụ ngày càng nâng cao; phát triển hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, liên thông, đồng bộ, hiện đại và bền vững; khai thác, sử dụng hiệu quả các công trình cấp nước hiện có; bảo vệ an toàn nguồn nước thô; hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và xử lý tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể đến hết năm 2027, hoàn thành quy hoạch cấp nước; rà soát, đánh giá, phân loại 100% công trình cấp nước sạch nông thôn; phê duyệt phương án tổ chức lại hệ thống cấp nước sạch nông thôn trên phạm vi toàn thành phố, xác định rõ phương án tiếp tục khai thác, nâng cấp, chuyển đổi hoặc chấm dứt hoạt động đối với từng công trình; 100% công trình cấp nước sạch nông thôn đang hoạt động có Kế hoạch cấp nước an toàn được phê duyệt và tổ chức thực hiện theo quy định.

Đến năm 2030, bảo đảm 100% người dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật, được cung cấp ổn định, liên tục theo quy định. Hoàn thành tổ chức lại hệ thống cấp nước sạch nông thôn theo quy hoạch được phê duyệt; chuyển đổi, thay thế hoặc chấm dứt hoạt động đối với các công trình không phù hợp quy hoạch, không bảo đảm chất lượng hoặc không bảo đảm hoạt động bền vững sau khi đã bố trí nguồn cấp thay thế. Hoàn thành việc giao quản lý, khai thác, xử lý tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch nông thôn và hoàn thiện hồ sơ đất đai đối với các công trình cấp nước theo quy định. Hình thành hệ thống cấp nước theo vùng có khả năng kết nối, hỗ trợ, điều tiết nguồn cấp giữa các khu vực; từng bước hình thành nguồn nước dự phòng, nâng cao năng lực bảo đảm an ninh nguồn nước. 100% đơn vị cấp nước thực hiện đầy đủ công tác nội kiểm, công khai thông tin về chất lượng nước; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện ngoại kiểm chất lượng nước theo quy định.

Ban Thường vụ Thành ủy đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thực hiện, cụ thể: (1) Hoàn thiện quy hoạch cấp nước, tổ chức lại hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, liên thông, hiện đại và bền vững; (2) Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản, đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về cấp nước sạch nông thôn; (3) Đầu tư phát triển hệ thống cấp nước đồng bộ; hoàn thiện cơ chế giá và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị cấp nước; (4) Bảo đảm cấp nước an toàn, bảo vệ nguồn nước và nâng cao chất lượng nước sạch; (5) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và tổ chức thực hiện.

Ban Thường vụ Thành ủy đề nghị Đảng ủy UBND thành phố lãnh đạo, chỉ đạo UBND thành phố xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị liên quan cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết thành các chương trình, đề án, kế hoạch và dự án cụ thể; phối hợp với Văn phòng Thành ủy, các cơ quan liên quan theo dõi đôn đốc, tham mưu sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết, kịp thời báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết.

Đảng ủy Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội thành phố tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết đến đoàn viên, hội viên và Nhân dân; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết. 

Đảng ủy các xã, phường, đặc khu căn cứ tình hình thực tế tại địa phương chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý hoặc đề xuất xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. 

Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết; định hướng thông tin, tuyên truyền, kịp thời biểu dương các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp và mục tiêu của Nghị quyết. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy chủ động tham mưu và tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 31/7/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về lãnh đạo thực hiện các giải pháp bảo đảm cấp nước sạch nông thôn và có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

5. Kế hoạch hành động của Ban Thường vụ Thành uỷ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

 

 

Ban Thường vụ Thành ủy vừa ban hành Kế hoạch hành động số 103-KH/TU, ngày 14/9/2026 thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Mục tiêu tổng quát là khai thác tối đa vị trí chiến lược và lợi thế nổi trội của thành phố, xây dựng Hải Phòng trở thành điểm đến ưu tiên của dòng vốn FDI chiến lược của khu vực và quốc tế, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao theo định hướng phát triển xanh, thông minh và bền vững.

Phấn đấu hình thành hệ sinh thái FDI hiện đại, góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế và uy tín của thành phố. Tạo động lực quan trọng góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2030 và năm 2045.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 giữ vững vị trí thuộc nhóm địa phương dẫn đầu về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Giai đoạn 2026 - 2030, thành phố xác định tập trung xúc tiến đầu tư, phấn đấu thu hút vốn đầu tư nước ngoài bình quân đạt từ 4 đến 5 tỷ USD/năm, trong đó thu hút vào khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp đạt khoảng 3,7 - 4,7 tỷ USD/năm.

Thu hút trên 90% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại. Phấn đấu thu hút thêm từ 4 đến 6 tập đoàn đa quốc gia trong danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu (Fortune 500) đầu tư tại thành phố Hải Phòng hoặc từ 4 đến 6 nhà đầu tư trong số các tập đoàn/doanh nghiệp đa quốc gia thuộc danh sách Fortune 500 đang đầu tư tại thành phố mở rộng dự án đầu tư…

Phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực: (i) công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử 25 - 30%; (ii) công nghiệp hỗ trợ ngành công nghệ cao 15%; (iii) công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo 40%; (iv) công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô 60%. Phấn đấu hằng năm có thêm ít nhất 20 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó tỷ lệ nhà cung ứng cấp I đạt từ 5% đến 10%. 

Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 92%. Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên địa bàn thành phố. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 26,5% - 27% tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc....

Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh và bền vững, chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 40% - 45% GRDP của thành phố.

Kế hoạch hành động đề ra 4 nhóm nhiệm vụ chung gồm: (1) Tổ chức tuyên truyền nhằm đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (2) Hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; (3) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; (4) Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút nhà đầu tư nước ngoài chiến lược.

Bên cạnh đó, Kế hoạch hành động đề ra 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm: (1) Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; (2) Thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan toả, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; (3) Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; (4) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (5) Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc thành phố và các cơ quan có liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

6. Hướng dẫn thực hiện Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng tại Đảng bộ thành phố Hải Phòng

 

 

Ban Tuyên giáo và Dân vận thành uỷ ban hành Hướng dẫn số 41-HD/BTGDVTU, ngày 21/9/2026 hướng dẫn thực hiện Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng; Hướng dẫn số 03-HD/BTGTW thực hiện Quy định số 19-QĐ/TW tại Đảng bộ thành phố Hải Phòng. Hướng dẫn được ban hành nhằm cụ thể hóa đầy đủ, toàn diện các nội dung, nhiệm vụ của Quy định số 19-QĐ/TW và Hướng dẫn số 03-HD/BTGTW phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tiễn công tác xây dựng Đảng tại Đảng bộ thành phố. Đồng thời, bảo đảm tính liên thông, đồng bộ giữa công tác chính trị, tư tưởng với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát; phân công rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. 

Các cấp ủy đảng có trách nhiệm bám sát các chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Thành ủy và đặc điểm tình hình cụ thể tại địa phương, cơ quan, đơn vị để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung trọng tâm. Cụ thể, đối với Quy định số 19-QĐ/TW và các văn hướng dẫn, cấp ủy các cấp có trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình 6 bước: (1) Lập kế hoạch triển khai cụ thể; (2) Tuyên truyền và tổ chức thực hiện đồng bộ; (3) Kiểm tra, giám sát thường xuyên; (4) Sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực chất; (5) Nhân rộng mô hình hay, cách làm hiệu quả; (6) Rà soát, bổ sung, điều chỉnh kịp thời các giải pháp để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn. Phân công rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu và cơ quan, đơn vị tham mưu trong từng khâu, từng bước triển khai. Người đứng đầu cấp ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về công tác chính trị, tư tưởng của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý theo phân cấp. Phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm nghiêm trọng, kéo dài trong lĩnh vực công tác chính trị, tư tưởng.

Việc tổ chức học tập, quán triệt Quy định số 19-QĐ/TW phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và các quy định, chỉ thị của Đảng có liên quan đến công tác chính trị, tư tưởng, nhất là Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới".

Thực hiện nghiêm túc mục tiêu đảm bảo 100% cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi quản lý được tham gia nghiên cứu, học tập, quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Thực hiện phương châm: Kết hợp chặt chẽ giữa "học nghị quyết" với "hành động theo nghị quyết" trên tinh thần "hiểu sâu, hành động đúng, làm đến cùng".

Nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, sinh hoạt tư tưởng, xây dựng văn hóa Đảng và thực hiện trách nhiệm nêu gương. Cấp ủy các cấp thường xuyên tổ chức sinh hoạt chính trị gắn với triển khai các yêu cầu chỉ đạo thực tiễn cụ thể của thành phố; chủ động, kịp thời chỉ đạo, định hướng nội dung sinh hoạt chính trị, tư tưởng gắn với sinh hoạt thường kỳ và sinh hoạt chuyên đề của chi bộ.

Bên cạnh đó, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao ý thức tổ chức; phát hiện, giáo dục, chấn chỉnh cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.

Nâng cao tính chiến đấu của toàn cấp ủy, tổ chức đảng; chủ động phản ứng nhanh, dự báo, dẫn dắt và kiểm soát hiệu quả các vấn đề tư tưởng phát sinh, đặc biệt là trên không gian mạng và các nền tảng số. Chủ động cung cấp thông tin chính thống kịp thời, chính xác cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trước khi quyết định chủ trương, chính sách lớn, các dự án công trình trọng điểm của thành phố có tác động trực tiếp đến người dân, cấp ủy cần chỉ đạo chủ động xây dựng phương án truyền thông từ sớm, từ xa. Cán bộ, đảng viên phải nắm vững các tiêu chí nhận diện thông tin tích cực và thông tin xấu độc theo Hướng dẫn số 03-HD/BTGTW để làm cơ sở định hướng dư luận và đấu tranh.

Đồng thời, nắm bắt, điều tra, nghiên cứu, dự báo và định hướng dư luận xã hội, kịp thời giải quyết những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở, không để tích tụ, lan rộng, phát sinh “điểm nóng” trên địa bàn. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu số về công tác chính trị, tư tưởng. Kiện toàn đội ngũ và bảo đảm nguồn lực cho công tác chính trị, tư tưởng.

Cấp ủy các cấp có trách nhiệm quán triệt, hướng dẫn và chỉ đạo cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện các quy định về trách nhiệm cá nhân theo Quy định số 19-QĐ/TW (các Điều 8, 9, 10, 11) và Hướng dẫn số 03-HD/BTGTW.

Khung tiêu chí đánh giá đối với cán bộ, đảng viên đánh giá theo 4 nhóm tiêu chí quy định tại Điều 8, 9, 10, 11 trong Quy định số 19-QĐ/TW, trong đó phân định rõ tiêu chí đối với đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. 

Khung tiêu chí đánh giá đối với các cấp ủy đảng đánh giá theo 2 nhóm tiêu chí lớn về thực hiện trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thực hiện trách nhiệm xây dựng ý thức tổ chức, kỷ luật, kỷ cương.

7. Đồng chí Nguyễn Sỹ Hiệp giữ chức Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025 - 2030

 

 

Chiều ngày 18/9/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về công tác cán bộ. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng dự và chỉ đạo Hội nghị.

Tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương đã công bố các quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc điều động, phân công, chỉ định, bổ nhiệm đối với 12 đồng chí giữ chức vụ mới. Trong đó, đồng chí Nguyễn Sỹ Hiệp, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương được điều động, phân công, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy, giữ chức Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hải Phòng, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Thay mặt các đồng chí nhận quyết định, đồng chí Nguyễn Sỹ Hiệp, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hải Phòng khẳng định, nhận nhiệm vụ mới là niềm vinh dự, tự hào, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề.

Nghiêm túc tiếp thu đầy đủ ý kiến chỉ đạo, giao nhiệm vụ của đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, đồng chí Nguyễn Sỹ Hiệp cam kết tuyệt đối chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chung sức, chung lòng cùng các đồng chí trong tập thể lãnh đạo cơ quan mới tiếp tục phát huy truyền thống, giữ gìn đoàn kết, không ngừng nỗ lực, tận tâm cống hiến, chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.

Đồng chí Nguyễn Sỹ Hiệp sinh ngày 7/3/1974, quê quán tỉnh Ninh Bình. Đồng chí có trình độ chuyên môn Thạc sĩ Thương mại quốc tế và Kinh tế hội nhập, Trình độ lý luận chính trị Cao cấp, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV.

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

- Trước 9/2014: Trợ lý Thủ tướng Chính phủ, Vụ trưởng Vụ Thư ký-Biên tập, Văn phòng Chính phủ.

- 9/2014: Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

- 12/2018: Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiêm Ủy viên Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.

- 9/2019: Được bổ nhiệm lại Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

- 9/2024: Được bổ nhiệm lại giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (theo Quyết định số 969/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

- 9/8/2025: Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Văn phòng Chính phủ lần thứ XXVII, nhiệm kỳ 2025-2030, được bầu giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Văn phòng Chính phủ nhiệm kỳ 2025-2030.

- 22/1/2026: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV.

- 2/2026: Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

- 9/2026: Ủy viên Trung ương Đảng; Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.

8. Mô hình “Đảng viên 213 – Đồng hành xây dựng tổ dân phố số”: Đột phá “Dân vận khéo” gắn với chuyển đổi số từ cơ sở tại phường Thiên Hương

 

 

Mô hình “Đảng viên 213 - Đồng hành xây dựng Tổ dân phố số” tại phường Thiên Hương là một giải pháp sáng tạo, mang tính đột phá nhằm cụ thể hóa chủ trương chuyển đổi số của Đảng. Thông qua việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của lực lượng đảng viên đang công tác giữ mối liên hệ với nơi cư trú theo Quy định số 213-QĐ/TW của Bộ Chính trị, mô hình huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội hóa để hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao chất lượng sinh hoạt và quản lý ở khu dân cư, hướng tới xây dựng chính quyền số và xã hội số từ gốc.

Mô hình được xây dựng và triển khai xuyên suốt theo phương châm 5 kết nối gồm “Đảng kết nối - Đảng viên đồng hành - Doanh nghiệp chung sức - Tổ dân phố phát huy - Nhân dân thụ hưởng”, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân và kết quả chuyển đổi số tại khu dân cư làm thước đo đánh giá. Theo kế hoạch tổng thể giai đoạn 2026 - 2028, mô hình được thiết kế theo lộ trình ba giai đoạn chặt chẽ. Giai đoạn một diễn ra trong năm 2026 với trọng tâm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, triển khai điểm và phủ sóng Internet tốc độ cao đến 100% Nhà văn hóa tổ dân phố. Giai đoạn hai triển khai trong năm 2027 nhằm mở rộng đồng bộ tại toàn bộ 17 tổ dân phố, trang bị đầy đủ hệ thống máy tính, máy in và thiết bị công nghệ thiết yếu, đồng thời hình thành các điểm hỗ trợ chuyển đổi số cộng đồng. Giai đoạn ba hoàn thiện trong năm 2028 hướng tới đánh giá, nâng cao chất lượng các tiêu chí, phấn đấu đạt trên 95% tiêu chí Tổ dân phố số để chuẩn hóa quy trình, tổng kết và chia sẻ kinh nghiệm nhân rộng.

Điểm sáng lớn nhất của mô hình là khả năng biến tinh thần trách nhiệm của đội ngũ đảng viên 213 thành các nguồn lực vật chất và giải pháp công trình cụ thể. Ngay trong bước đầu triển khai, mô hình đã tạo nên sức bật mạnh mẽ và hoàn thành vượt tiến độ 05 tháng so với kế hoạch ban đầu. Các Tổ đảng viên 213 đã đóng vai trò nòng cốt kết nối, vận động các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đóng góp nguồn kinh phí xã hội hóa đạt 599.628.000 đồng. Nguồn lực này được đầu tư trực tiếp để trang bị đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin cho toàn bộ 17 Nhà văn hóa trên địa bàn phường, bao gồm đường truyền Internet tốc độ cao cùng gói hỗ trợ cước dịch vụ từ FPT Telecom Thủy Nguyên, hệ thống camera giám sát an ninh tại khu dân cư, ti vi công suất lớn phục vụ hội nghị trực tuyến, cùng hệ thống máy tính và máy in phục vụ công tác điều hành của chi bộ và tổ dân phố.

Bên cạnh việc trang bị hạ tầng phần cứng, mô hình duy trì tính hiệu quả bền vững nhờ cơ chế ký kết phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ đạo mô hình, doanh nghiệp viễn thông và các Tổ đảng viên 213 tại nơi cư trú. Thông qua cơ chế này, lực lượng đảng viên 213 không chỉ hỗ trợ trang thiết bị mà còn trực tiếp đồng hành cùng chi bộ, ban công tác Mặt trận và các đoàn thể hướng dẫn kỹ năng số cho cán bộ cơ sở, hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, kích hoạt ứng dụng VNeID và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Mô hình “Đảng viên 213 - Đồng hành xây dựng Tổ dân phố số” tại phường Thiên Hương là minh chứng sinh động cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, biến công tác dân vận thành những tiện ích công nghệ thiết thực, tạo tiền đề quan trọng để nghiên cứu và nhân rộng trên toàn thành phố.

II. TIN TRONG NƯỚC – THẾ GIỚI

 

 

1. Tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị

Ngày 03/9/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị: (1) Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; (2) Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; (3) Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; (4) Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; (5) Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới; (6) Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới và Chuyên đề toàn khóa về “học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”. Hội nghị được tổ chức nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, điểm mới, trọng tâm của các nghị quyết, chỉ thị; trên cơ sở đó cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả; góp phần nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong tổ chức thực hiện; bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị và chuyên đề toàn khóa được triển khai đồng bộ, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; tạo sự thống nhất, đồng thuận, củng cố niềm tin, khơi dậy quyết tâm chính trị và tinh thần đổi mới, sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, với 05 yêu cầu trọng tâm sau: (i) Thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng, tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất. (ii) Hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới đi tìm điều kiện thực hiện. (iii) Tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống. (iv) Tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia; gắn phát triển vùng, phát triển du lịch với phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. (v) Đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ đánh giá.

2. Đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách

 

 

Đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng bám sát các nội dung chủ yếu về yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ đánh giá của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đó là:

(i) Phương châm Công tác tư tưởng: "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả"; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm gốc, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo; (ii) Phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện, đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ sớm, từ cơ sở; (iii) Xác định đây là việc của toàn Đảng, trước hết là cấp ủy, người đứng đầu; không khoán trắng cho cơ quan chuyên trách. Truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; tăng giải thích, đối thoại, lắng nghe, tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ, kết quả thực tiễn; (iv) Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân. Phải phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt; không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt; (v) Mỗi vấn đề lớn phải có đầu mối cung cấp thông tin, xử lý từ sớm. Chú trọng giúp thế hệ trẻ nhận diện, kiểm chứng, tự bảo vệ trước thông tin sai lệch, thao túng tâm lý, cảm xúc. Không để bức xúc thực tế và khoảng trống thông tin làm xói mòn niềm tin; (vi) Phải sử dụng dữ liệu, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để dự báo, cảnh báo, nhưng không kỹ thuật hóa công tác tư tưởng. Thông tin do công nghệ hỗ trợ phải được kiểm chứng, có người chịu trách nhiệm; công nghệ không thay thế bản lĩnh chính trị, năng lực đối thoại. Sức thuyết phục cao nhất vẫn là chính sách đúng, cán bộ gương mẫu, vấn đề chính đáng của Nhân dân được giải quyết; (vii) Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, vừa giữ kỷ luật, vừa cảnh báo sớm, tháo gỡ khó khăn; tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, nguồn lực lớn, vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, điểm nghẽn nào được tháo gỡ, người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì; không chờ hậu quả mới kiểm tra, xử lý; (viii) Kết quả phải gắn với đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, người đứng đầu; nơi làm tốt phải nhân rộng, nơi trì trệ phải xử lý. Không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay kết quả; không đo công tác tư tưởng bằng số tin, bài, mà bằng khả năng phát hiện sớm, giải thích đúng, xử lý nhanh, củng cố niềm tin. Nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng, hiệu quả thực tế; (ix) Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Phát huy giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, Nhân dân; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng phải xem xét cả trách nhiệm thực hiện và bất cập cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, không lấy chính sách bao biện cho yếu kém. Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của Nhân dân; (x) Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Đảng ủy Quốc hội thể chế hóa, giám sát; Đảng ủy Chính phủ bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện. Địa phương cụ thể hóa sát thực tiễn; người đứng đầu chịu trách nhiệm đến cùng; bảo đảm liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện, giám sát.

3. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới

 

 

Trong 5 năm qua, thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung đã bước đầu đạt được một số kết quả tích cực.

Nhằm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tiên phong, gương mẫu, dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, năng lực hành động, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Hoàn thiện thể chế, pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi để phát hiện, khuyến khích, tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dấn thân, dám đổi mới, sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung. Khắc phục triệt để tình trạng e ngại, sợ sai, làm việc cầm chừng, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; tạo chuyển biến rõ nét về kỷ luật, kỷ cương, chất lượng và hiệu quả thực thi nhiệm vụ; góp phần xây dựng nền công vụ năng động, liêm chính, chuyên nghiệp, sáng tạo, lấy sản phẩm, kết quả thực thi và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo chủ yếu. Thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, quản trị rủi ro, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và bảo vệ cán bộ đúng người, đúng việc, đúng bản chất.

Ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới, nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật và cơ chế đặc thù trọng dụng, bảo vệ cán bộ. Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền gắn với quản trị rủi ro công vụ từ sớm, từ xa trong triển khai các đề xuất đổi mới, sáng tạo. Thực hiện cơ chế bảo vệ bao trùm, xuyên suốt; minh bạch quy trình miễn, giảm trách nhiệm gắn với đổi mới công tác kiểm tra, giám sát. Đột phá mạnh mẽ trong công tác cán bộ, lấy hiệu quả đổi mới, sáng tạo làm thước đo cốt lõi, tạo động lực, tôn vinh và trọng dụng cán bộ.

Giải pháp đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền gắn với quản trị rủi ro công vụ từ sớm, từ xa trong triển khai các đề xuất đổi mới, sáng tạo, được cụ thể như sau:

Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cấp ủy, người đứng đầu trong quyết định và tổ chức thực hiện các giải pháp đột phá, cấp bách. Phân cấp, ủy quyền phải đi đôi với tăng cường kiểm soát quyền lực, giám sát và trách nhiệm giải trình; quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong đề xuất, phê duyệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; phân định rõ loại việc người đứng đầu quyết định và những việc phải xin ý kiến, thông qua tập thể; bảo đảm thống nhất với nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo xử lý dứt điểm các điểm nghẽn, dự án trì trệ, tồn đọng kéo dài, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, tài chính, đầu tư công, tài nguyên, môi trường, hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội... Đối với mô hình thí điểm khác với quy định hiện hành hoặc chưa có quy định, phải báo cáo cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định; những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, phức tạp, vượt thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền ở Trung ương.

Thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro công vụ từ sớm, từ xa. Mọi đề xuất đổi mới, sáng tạo phải công khai, minh bạch, xác định rõ mục tiêu, thẩm quyền, nguồn lực, rủi ro và cam kết không vụ lợi. Đơn giản hóa quy trình đối với đề xuất nhỏ, cấp thiết ở cơ sở; quy định thời hạn xử lý đối với từng khâu, gắn trách nhiệm người đứng đầu nếu để chậm trễ, kéo dài. Thiết lập cơ chế tư vấn, giám sát liên ngành để hỗ trợ, thẩm định, theo dõi và đánh giá khách quan quá trình thực hiện.

Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về sáng kiến, đề xuất đổi mới bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống"; theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro và kịp thời nhân rộng các mô hình hiệu quả. Tổ chức, cơ quan, đơn vị bảo đảm nguồn lực thực hiện, bố trí kịp thời trang thiết bị, phương tiện làm việc, nhân sự và kinh phí cần thiết để cán bộ thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới, sáng tạo đã được phê duyệt. Thiết lập cơ chế tham vấn, phản ứng nhanh, hỗ trợ cán bộ xử lý rủi ro từ sớm, từ xa, quyết định kịp thời đối với các tình huống cấp bách, vấn đề phức tạp về kinh tế - xã hội hoặc thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm không bỏ lỡ thời cơ, không gây ách tắc công việc chung.

4. Nâng cao năng suất lao động quốc gia gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong giai đoạn mới

 

 

Ngày 30/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1685/QĐ-TTg về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 62-KL/TW, ngày 29/6/2026 của Ban Bí thư về nâng cao năng suất lao động quốc gia gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong giai đoạn mới trong đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp:

Tập trung quán triệt, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động về nâng cao năng suất lao động gắn với phát triển thị trường lao động. Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả gắn với nâng cao năng suất lao động. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp tạo việc làm có năng suất lao động cao. Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường trong giai đoạn mới. Thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực tăng năng suất lao động. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Thúc đẩy phát triển việc làm bền vững, chú trọng bảo đảm an sinh xã hội. Tập trung phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, hiệu quả gắn với nâng cao năng suất lao động.

Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp tạo việc làm có năng suất lao động cao, được nêu cụ thể như sau: Khẩn trương rà soát, tổ chức quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn theo hướng gắn với phân bố dân cư, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm năng suất cao để hình thành và phát triển các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư theo hướng ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, quản trị hiện đại, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tạo nhiều việc làm có chất lượng, năng suất và thu nhập cao.  Rà soát, đánh giá vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao năng suất lao động; trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm có năng suất lao động cao. Nghiên cứu xây dựng, triển khai các chương trình, chính sách thúc đẩy chuyển dịch khu vực kinh tế phi chính thức sang chính thức (Hoàn thiện cơ chế, chính sách trong năm 2027; tổ chức rà soát, quy hoạch thực hiện thường xuyên).

Rà soát, xây dựng chính sách khuyến khích phát triển việc làm có năng suất lao động cao trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn với thúc đẩy cơ giới hóa, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, thúc đẩy chuyển dịch lao động giản đơn sang lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn kỹ thuật, từ việc làm phi chính thức sang việc làm chính thức (Báo cáo rà soát trong năm 2026, tổ chức thực hiện thường xuyên).

Nghiên cứu, tổ chức các hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tri thức, nâng cao năng lực quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tăng tỷ lệ nội địa hóa, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu (Hoạt động hợp tác, liên kết, trao đổi được thực hiện thường xuyên).

Nghiên cứu, xây dựng chính sách và triển khai các hoạt động hỗ trợ về việc làm, phát triển kỹ năng nghề, tiền lương, bảo hiểm xã hội thúc đẩy chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao (sửa đổi, bổ sung, ban hành chính sách hoàn thành trong năm 2027 và tổ chức thực hiện thường xuyên).

5. Thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế

 

 

Tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế ngày 25/8/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã kết luận, chỉ đạo một số quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ như sau:

Về quan điểm, xác định bảo đảm an sinh xã hội là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, là đầu tư cho con người và tương lai phát triển đất nước. Hiệu quả chính sách an sinh xã hội phải được đo lường bằng sức khoẻ, giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, sự ổn định xã hội và niềm tin của Nhân dân. An sinh xã hội phải bao phủ toàn dân, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những người yếu thế, nhất là trẻ em, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người gặp thiên tai, mất việc làm, nạn nhân của bạo lực và những người không có khả năng tự bảo vệ. An sinh bền vững phải dựa trên việc làm, thu nhập ổn định, khả năng tiếp cận nhà ở, y tế, giáo dục, dinh dưỡng, chăm sóc trẻ em và các dịch vụ thiết yếu.

Lấy người dân làm trung tâm; gia đình, cộng đồng làm nền tảng; cấp cơ sở là tuyến đầu hành động. Chính sách cần được thiết kế sát với thực tế, không bị chia cắt bởi địa giới hành chính hay cơ quan quản lý. Nhà nước phải chủ động phát hiện, hỗ trợ đúng người, đúng lúc, không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có. Bảo đảm hài hoà giữa công bằng và hiệu quả, nhân văn và kỷ luật, quyền lợi trước mắt và bền vững lâu dài; khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải; không để những quy định "máy móc" loại những người thực sự khó khăn ra khỏi chính sách. Đánh giá kết quả bằng những thay đổi thực chất trong đời sống và niềm tin của Nhân dân; không chỉ thống kê số văn bản, số người thụ hưởng hay số tiền đã chi, mà phải bảo đảm chính sách đến đúng người, kịp thời, giảm gánh nặng chi phí, tạo việc làm cho người trong độ tuổi lao động, bảo đảm trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường.

Về mục tiêu, đến năm 2030, hình thành cơ bản hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hóa, bảo đảm sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân. Đến năm 2045, hệ thống phải tiếp cận chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao, dịch vụ chất lượng, tài chính bền vững, quản trị minh bạch và khả năng ứng phó nhanh trước các rủi ro.

Về yêu cầu, sàn an sinh tối thiểu phải bảo đảm chăm sóc y tế thiết yếu, thu nhập cơ bản và điều kiện phát triển cho trẻ em, hỗ trợ người trong độ tuổi lao động khi mất việc, mất sinh kế, thai sản, tai nạn, khuyết tật; bảo đảm thu nhập và chăm sóc thiết yếu cho người cao tuổi. Trên nền tảng đó, tiếp tục phát triển các tầng bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện, bổ sung và huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, gia đình.

An sinh xã hội phải được đặt trong mối quan hệ gia đình và liên thế hệ; việc làm, thu nhập của cha mẹ gắn liền với điều kiện sống, chăm sóc và học tập của các con. Chính sách phải được đánh giá bằng lợi ích thực chất đối với mỗi người dân, sự bền vững của gia đình và tương lai của thế hệ sau. Tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau" phải được cụ thể hóa bằng kết quả có thể kiểm tra, giám sát; không để người dân rơi xuống dưới mức sống tối thiểu mà không được phát hiện, trẻ em bỏ học vì nghèo, người khuyết tật đặc biệt nặng không có người chăm sóc, gia đình gặp thiên tai phải chờ đợi quá lâu mới được hỗ trợ.

An sinh xã hội cần phải có tầm nhìn dài hạn, xác định đúng ưu tiên, tổ chức thực hiện hiệu quả. Nguồn lực chi cho an sinh xã hội không chỉ có ngân sách nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng và ý chí, nghị lực của mỗi người dân. Đột phá quan trọng nhất không chỉ là tăng mức trợ cấp mà là nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc phát hiện, lắng nghe và hỗ trợ người dân kịp thời; bảo đảm các chính sách được thực hiện đồng bộ, phòng ngừa tốt rủi ro và tạo điều kiện để người dân tự vươn lên.

Về nhiệm vụ: Thiết lập hồ sơ an sinh và đầu mối phục vụ. Chính phủ khẩn trương xây dựng Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia, kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư, bảo hiểm, thuế, việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở và thiên tai, bảo đảm an ninh, an toàn và quyền riêng tư. Mỗi người dân có một hồ sơ an sinh theo vòng đời; mỗi gia đình được đánh giá đầy đủ về nhu cầu hỗ trợ.  Xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội, công bố hằng năm theo địa phương và nhóm dân cư; bộ chỉ số phải đo được mức độ bao phủ, phạm vi quyền lợi, tỉ lệ bỏ sót, thời gian giải quyết, chi phí người dân phải tự trả, khả năng có việc làm, khả năng tiếp cận của người khuyết tật và mức độ hài lòng của người hưởng. Nơi nào để sót đối tượng, giải quyết chậm, để người dân phản ánh kéo dài thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và giải trình.

Củng cố sàn an sinh và cải cách chính sách trợ giúp xã hội. Rà soát, hợp nhất các chương trình trùng lặp, giảm đầu mối, thống nhất tiêu chí cốt lõi, đồng thời dành dư địa để địa phương xử lý những vấn đề đặc thù. Mức trợ giúp phải được điều chỉnh phù hợp với mức sống tối thiểu, biến động giá cả và khả năng ngân sách, hỗ trợ bổ sung kịp thời những người gặp biến cố.

Mở rộng bảo hiểm xã hội và xây dựng thị trường lao động bao trùm. Hoàn thiện các gói bảo hiểm linh hoạt về mức đóng, thời gian đóng và phương thức tham gia, có hỗ trợ phù hợp đối với người thu nhập thấp. Nghiên cứu, xác định trách nhiệm đóng góp của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số (gọi xe, taxi công nghệ...). Mở rộng bảo hiểm tai nạn lao động và chế độ thai sản cho khu vực phi chính thức. Chính sách trợ giúp người trong độ tuổi lao động phải gắn với đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làm, tín dụng và kết nối doanh nghiệp. Đào tạo phải được đánh giá bằng kết quả việc làm thực tế, không chỉ bằng số người tham dự. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, người sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù và lao động lớn tuổi. Thực hiện giới thiệu việc làm, hướng nghiệp cho đối tượng dễ bị tổn thương, yếu thế. Ưu tiên hỗ trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ thí điểm mô hình sinh kế đối với hộ gia đình có người cao tuổi, người khuyết tật; ưu tiên được vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm, tăng thu nhập.

Xây dựng hệ thống an sinh gia đình và liên thế hệ. Quy hoạch khu công nghiệp, khu kinh tế, đô thị phải đồng bộ giữa việc làm với nhà ở xã hội, trường học, cơ sở y tế, nhà trẻ và các dịch vụ thiết yếu. Chính sách an sinh phải theo người lao động, không bị gián đoạn bởi nơi cư trú hay loại hình việc làm. Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động phải cùng chia sẻ trách nhiệm về phát triển nhà ở, trường học, nhà trẻ và thiết chế xã hội. Đặc biệt, quan tâm trẻ em sống xa cha mẹ, trẻ em do ông bà chăm sóc và gia đình có nhiều người phụ thuộc. Không để khó khăn của thế hệ trước trở thành thiệt thòi của các thế hệ sau.

Phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó với tình trạng già hóa dân số. Xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế chăm sóc, kết hợp y tế, phục hồi chức năng, công tác xã hội và chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Phát triển mạng lưới chăm sóc ban ngày, chăm sóc tạm thời, trợ giúp người khuyết tật, chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ sức khỏe tâm thần. Nghiên cứu thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn tại một số địa phương, đánh giá kỹ tác động tài chính trước khi nhân rộng. Đồng thời, chuẩn hóa nghề chăm sóc, đào tạo và có chính sách phù hợp với nhân viên công tác xã hội, điều dưỡng và người chăm sóc tại nhà. Xây dựng mô hình nhà xã hội chăm sóc người cao tuổi độc thân, người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, bảo đảm người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm, nhà dột nát.

Triển khai kịp thời chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám sức khoẻ định kỳ, lập sổ theo dõi sức khoẻ người cao tuổi ở y tế tuyến xã, ưu tiên nhóm từ 80 tuổi trở lên và từng bước mở rộng đến nhóm từ 65 tuổi trở lên. Thực hiện khám chữa bệnh tại nhà cho người cao tuổi không có điều kiện đến cơ sở y tế. Phát triển khoa lão khoa tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và Trung ương; phát triển bệnh viện tuyến cơ sở để phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, phục hồi chức năng và hỗ trợ phát triển toàn diện trẻ em ngay từ những năm đầu đời.

Bảo đảm cơ hội phát triển công bằng cho trẻ em và người yếu thế. Ưu tiên đầu tư cho 1.000 ngày đầu đời (dinh dưỡng, tiêm chủng, giáo dục mầm non, sàng lọc khuyết tật và can thiệp sớm). Hỗ trợ đối tượng yếu thế ở các cấp học phổ thông, cơ sở đào tạo nghề, hướng nghiệp. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đặc thù; ứng dụng hệ thống học liệu chuyên dụng phục vụ chuyển đổi ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi cho học sinh khiếm thị; bổ sung đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có trình độ chuyên môn phù hợp với phương pháp giáo dục người khuyết tật. Bảo đảm người khuyết tật tiếp cận công trình công cộng, giao thông, giáo dục, y tế và dịch vụ số. Có giải pháp khuyến khích người dân chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn, khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh, khám sàng lọc một số loại bệnh phổ biến, nguy hiểm, phù hợp với từng lứa tuổi, nhóm đối tượng.

Nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, dịch bệnh và quá trình phát triển xanh. Mỗi địa phương phải có bản đồ rủi ro, danh sách các hộ gia đình dễ bị tổn thương và giải pháp ứng phó. Khi xảy ra thiên tai, dữ liệu, ngân sách và hệ thống thanh toán phải được kích hoạt ngay, rút ngắn thời gian hỗ trợ từ nhiều tuần xuống còn vài ngày đối với các trường hợp đã đủ căn cứ. Các chương trình phát triển, thu hồi đất, sắp xếp sản xuất phải gắn với phương án về việc làm, thu nhập, sinh kế; có phương án đào tạo lại, hỗ trợ di chuyển, bảo hiểm thất nghiệp và tạo việc làm tại chỗ; không để người nghèo và người lao động yếu thế phải gánh chịu bất lợi của quá trình phát triển.

Đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội. Xây dựng kế hoạch tài chính an sinh trung hạn; công khai nguồn lực, kết quả của từng chương trình, cắt giảm chính sách trùng lặp, kém hiệu quả. Huy động nguồn lực xã hội nhưng Nhà nước giữ vai trò bảo đảm sàn an sinh tối thiểu. Quốc hội tăng cường giám sát mức độ bao phủ, chất lượng chính sách và bền vững tài chính. Mặt trận Tổ quốc phát huy vai trò giám sát tại cộng đồng, tiếp nhận phản ánh và đối thoại với người thụ hưởng. Xử lý nghiêm hành vi trục lợi chính sách, thiếu trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm; bảo vệ cán bộ cơ sở dám quyết định, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của Nhân dân trong những tình huống cấp thiết.

6. Một số kết quả chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân

 

 

Nhận lời mời của Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ từ ngày 7-12/9/2026. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới sau khi Việt Nam tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. 

Chuyến thăm mang ý nghĩa lịch sử khi đây là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga đầu tiên của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta kể từ năm 1991 cũng là chuyến thăm chính thức Pháp lần thứ hai của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng thời là lần thứ hai người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam tham dự sự kiện quốc tế do Pháp tổ chức, đặc biệt đây là hội nghị ở cấp nguyên thủ lần đầu tiên trên thế giới về lĩnh vực không gian vũ trụ.

Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp và đạt kết quả toàn diện, ở mức cao các mục đích, yêu cầu đề ra với nhiều kết quả thực chất, có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ của Việt Nam với các đối tác cũng như đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Hai nước đã dành sự đón tiếp rất trọng thị, nồng hậu với nhiều nghi lễ đặc biệt đối với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Đoàn, thể hiện sự coi trọng đặc biệt đối với quan hệ với Việt Nam cũng như đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, nhân dân ta và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Tại hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có rất nhiều hoạt động phong phú với các cuộc hội đàm, hội kiến, gặp gỡ, trao đổi với tất cả các lãnh đạo cao nhất, các đại diện của các chính đảng, lãnh đạo của nhiều giới, từ doanh nghiệp cho tới giới học giả, những người làm công tác khoa học - công nghệ, giáo dục, với cộng đồng người Việt Nam ở hai nước. Lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương tham gia đoàn cũng đã có các cuộc làm việc hiệu quả, thực chất với các đối tác ở cả hai nước.

Một điểm rất nổi bật trong hoạt động đối ngoại cấp cao lần này là việc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và lãnh đạo của hai nước Liên bang Nga và Pháp đều đạt được nhất trí rất cao về những vấn đề được trao đổi và quan tâm chung, những kết quả tích cực đạt được trong quan hệ và phương hướng thời gian tới. Qua đó, lãnh đạo Việt Nam cùng lãnh đạo của hai nước đã tăng cường được sự hiểu biết lẫn nhau trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đặt ra những yêu cầu mới đối với Việt Nam, với Liên bang Nga và với Pháp; đồng thời củng cố tin cậy chính trị ở mức cao đã được xác lập sau chuyến thăm lịch sử của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Pháp vào tháng 10/2024 và đến Nga vào tháng 5/2025.

Bên cạnh việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và củng cố quan hệ chính trị, một yếu tố rất quan trọng là việc lãnh đạo cấp cao Việt Nam, Nga và Pháp có sự nhất trí rất cao, đi sâu trao đổi về việc làm thế nào để triển khai thực hiện hiệu quả những thỏa thuận đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo,… để từ đó mở ra những hướng hợp tác mới trong những lĩnh vực này. Nhiều chương trình hợp tác đã được triển khai với nội dung phong phú, được các bên ghi nhận và đánh giá cao trong Tuyên bố chung giữa Việt Nam với Nga, Việt Nam với Pháp; trong các cuộc trao đổi giữa hai bên tại các diễn đàn doanh nghiệp, diễn đàn về khoa học - công nghệ và những văn kiện hợp tác được ký kết.

Việt Nam và Liên bang Nga, Việt Nam và Pháp hoàn toàn có thể tận dụng tiềm năng hợp tác để đáp ứng yêu cầu và lợi ích của mỗi bên. Trong thương mại và đầu tư, Việt Nam, Nga và Pháp đều nhận thấy rằng kim ngạch thương mại, đầu tư hai chiều cần phải cao hơn nữa để tương xứng với khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên. Đặc biệt, trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, hai bên có sự nhất trí cao; cả Pháp và Nga đều nhất trí xác định đây là một hướng đột phá mới trong quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu rõ việc cần phải thay đổi tư duy, có cách làm mới trong hợp tác và được lãnh đạo hai nước nhất trí cao. Tư duy không còn là chuyện Việt Nam mua bao nhiêu hàng từ các nước và ngược lại hay chuyển giao công nghệ đơn thuần mà phải làm sao để Việt Nam cùng Nga và Pháp hợp tác cùng sản xuất, cùng nghiên cứu và tạo ra sản phẩm chung, tăng cường liên kết, kết nối chuỗi cung ứng chung giữa Việt Nam và Nga, Việt Nam và Pháp. Đây là tư duy rất quan trọng để định hướng cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Nga và Pháp thời gian tới.

Qua các cuộc gặp gỡ và trao đổi, các nước đều cảm nhận và hiểu rõ cách làm hiện nay của Việt Nam, qua đó nhất trí sẽ cùng nhau tổ chức thực hiện. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định lãnh đạo Việt Nam và Chính phủ Việt Nam sẽ chỉ đạo, giải quyết từng dự án để tháo gỡ các vướng mắc và khó khăn nếu có, từ đó đạt được kết quả cụ thể và tập trung vào những hướng đi mới.

Sự phát triển trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Nga và Pháp góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới. Với việc hai nước đều là Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, có vị thế và tiếng nói quan trọng, việc tăng cường quan hệ với hai nước sẽ góp phần giúp Việt Nam thực hiện thành công đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIV, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, củng cố cục diện đối ngoại của ta ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên thế giới, mang lại lợi ích chung, củng cố hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực cũng như trên thế giới.

Đối với Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Pháp, lãnh đạo Pháp và các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao việc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tham dự và có bài phát biểu quan trọng. Vũ trụ hiện nay không chỉ là vấn đề khoa học mà còn là không gian phát triển mới, được Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm và mong muốn tranh thủ, tận dụng để phát triển đất nước. Pháp là một nước có nhiều tiềm năng và thế mạnh cả về khoa học, ứng dụng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vũ trụ.

Truyền thông quốc tế đã đưa tin đậm nét kết quả và ý nghĩa chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ từ ngày 07 - 12/9/2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao. Trong đó nổi bật là cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với Tổng thống Vladimir Putin, những thỏa thuận mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực và triển vọng tăng cường giao lưu giữa nhân dân hai nước. Nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam và Nga đã xác định 48 lĩnh vực hợp tác, với mục tiêu được đặt ra là đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện sang một giai đoạn mới với nhiều dự án cụ thể hơn. Trong lĩnh vực kinh tế, hai bên hướng tới tăng cường thương mại và đầu tư, thúc đẩy các dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Chuyến thăm chính thức Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, truyền thông quốc tế nhấn mạnh, người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh quốc tế về không gian mang một thông điệp quan trọng: Việt Nam không còn nhìn nhận không gian chỉ dành cho một số cường quốc có tiềm lực khoa học và tài chính vượt trội. Việt Nam muốn tiến xa hơn vai trò của một quốc gia tiếp nhận thành quả công nghệ. Việt Nam và Pháp đều đề cao việc thăm dò, khai thác và sử dụng không gian vì mục đích hòa bình. Hai nước cùng coi trọng luật pháp quốc tế, chủ nghĩa đa phương, đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. La Tribune nhận định chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ song phương. Việt Nam và Pháp có thể từng bước trở thành những nhịp cầu chiến lược kết nối ASEAN với Liên minh châu Âu (EU).

7. Việt Nam chủ động mở rộng không gian hợp tác và nâng tầm đối ngoại đa phương tại BRICS

 

 

Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại Ấn Độ từ ngày 12-13/9/2026. Đây là một trong những hoạt động đối ngoại đa phương cấp cao quan trọng của Việt Nam trong năm 2026.

Hội nghị BRICS lần thứ 18 đánh dấu 20 năm hình thành và phát triển của BRICS, từ diễn đàn phối hợp chính sách kinh tế, tài chính trở thành cơ chế hợp tác đa phương có vai trò ngày càng quan trọng, góp phần nâng cao tiếng nói của các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển trong các vấn đề toàn cầu.

Việc Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị tại Ấn Độ có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam là Nước Đối tác BRICS từ tháng 6/2025. Chuyến công tác góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV và chủ trương nâng tầm đối ngoại đa phương; tạo điều kiện để Việt Nam tham gia trao đổi, đề xuất giải pháp đối với các vấn đề về kinh tế, phát triển và quản trị toàn cầu, từng bước chuyển từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi”, qua đó nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.

Hội nghị cũng là dịp để Việt Nam chủ động nắm bắt các xu thế phát triển, định hướng hợp tác mới; củng cố quan hệ với Ấn Độ - nước Chủ tịch BRICS năm 2026 - cùng các Nước thành viên và Nước đối tác. Tham gia các hoạt động của BRICS mở thêm không gian thúc đẩy hợp tác về quốc phòng, an ninh, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, năng lượng, hạ tầng và đổi mới sáng tạo; đồng thời đa dạng hóa thị trường, đối tác, chuỗi cung ứng và tranh thủ các nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã có bài phát biểu quan trọng, tập trung vào các vấn đề chiến lược được nước chủ nhà Ấn Độ cùng các quốc gia thành viên BRICS đặc biệt quan tâm. Thủ tướng Chính phủ đã đề xuất 3 nhóm nội dung trọng tâm, đó là: nâng cao sức chống chịu và tự cường; làm mới động lực truyền thống, kiến tạo động lực tăng trưởng mới; chuyển hóa hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo thành chương trình, dự án cụ thể.

Các nước thành viên BRICS đánh giá cao sự tham gia tích cực cùng những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi khẳng định sự tham dự và bài phát biểu của Thủ tướng Lê Minh Hưng đã góp phần nâng tầm Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18.

Trong khuôn khổ chuyến công tác, Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng đã có cuộc hội đàm cấp cao song phương quan trọng với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Đây là dịp để Lãnh đạo hai Chính phủ rà soát, đánh giá tình hình thực hiện hợp tác kể từ sau chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ - thời điểm hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện Tăng cường. Hai bên thống nhất các phương hướng, biện pháp cụ thể nhằm hiện thực hóa các thỏa thuận cấp cao trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Thủ tướng đã tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao với lãnh đạo các quốc gia thành viên và đối tác của BRICS, các Trưởng đoàn, các tổ chức quốc tế và nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Ấn Độ.

8. Một số kết quả chuyến thăm chính thức Hàn Quốc, Mông Cổ của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân

 

 

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Cho Jeong Si và Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ Sandag Byambatsogt, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam thăm chính thức Hàn Quốc từ ngày 06 - 09/9 và thăm chính thức Mông Cổ từ ngày 09 - 11/9/2026.

Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, đạt nhiều kết quả thực chất,  chuyển hóa quan hệ chính trị đang phát triển tích cực thành những hướng hợp tác cụ thể hơn, thiết thực hơn. Cụ thể:

​Trước hết, các chuyến thăm đã làm sâu sắc hơn quan hệ chính trị và phát huy hiệu quả của kênh ngoại giao nghị viện với cả Hàn Quốc và Mông Cổ. Thông qua gần 30 hoạt động cấp cao và chuyên ngành, các bên đã rà soát toàn diện việc triển khai các thỏa thuận, tháo gỡ vướng mắc và xác định rõ các bước đi tiếp theo trên các lĩnh vực hợp tác. Các cuộc trao đổi của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đều cho thấy các nước rất coi trọng vai trò, vị thế, tiềm năng và triển vọng phát triển của Việt Nam, đánh giá cao tầm nhìn và các biện pháp cải cách gần đây của Đảng và Nhà nước ta. Quốc hội các nước, các đảng phái chính trị mỗi nước đều mong muốn cùng đồng hành với Việt Nam trong quá trình phát triển, thắt chặt hơn nữa quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc và Đối tác Toàn diện Việt Nam - Mông Cổ. Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội và Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Mông Cổ vừa ký cũng như Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Hàn Quốc ký kết năm 2025 sẽ tiếp tục là chất xúc tác quan trọng thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên.

​Thứ hai, chuyến thăm khẳng định vai trò của cơ quan lập pháp mỗi nước và kênh ngoại giao nghị viện trong việc tạo xung lực mới cho các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, đặc biệt trong kinh tế - thương mại - đầu tư và khoa học - công nghệ. Quốc hội Việt Nam và các nước đã cam kết phối hợp chặt chẽ, không chỉ phát huy vai trò lập pháp, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp các nước, mà còn tham gia sâu sát vào giám sát triển khai các thỏa thuận, hiệp định đã ký kết. Với Hàn Quốc, hai bên đặt trọng tâm là xử lý các vướng mắc, thu hút đầu tư chất lượng cao của Hàn Quốc vào các lĩnh vực ưu tiên, đưa kim ngạch thương mại song phương hướng tới 150 tỷ USD vào năm 2030. Lãnh đạo Hàn Quốc khẳng định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào quá trình triển khai ba siêu dự án về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu. Với Mông Cổ, hai bên quyết tâm nâng kim ngạch thương mại song phương lên 200 triệu USD. Phía Mông Cổ khẳng định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các dự án lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực như khoáng sản chiến lược, năng lượng tái tạo, những lĩnh vực Mông Cổ có ưu thế như nông nghiệp, đồ len, đồ da để cùng nhau sản xuất, tiếp cận thị trường thứ ba. Trên cơ sở đó, hai bên cũng thống nhất sớm ký mới Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư. 

Thứ ba, chuyến thăm góp phần củng cố vững chắc nền tảng xã hội của quan hệ. Các lãnh đạo Hàn Quốc luôn bày tỏ tình cảm đặc biệt với Việt Nam, coi các gia đình đa văn hóa Việt - Hàn là cầu nối quan trọng cho quan hệ hữu nghị song phương, cam kết bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc; mở rộng ngành nghề tiếp nhận lao động Việt Nam. Phía Mông Cổ mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác giáo dục, du lịch, thể thao và giao lưu nhân dân. Lãnh đạo Mông Cổ cũng khẳng định sẽ tạo thuận lợi hơn nữa để cộng đồng người Việt Nam yên tâm mở rộng làm ăn, sinh sống và học tập ở sở tại.

​Việt Nam và hai nước cũng nhất trí tiếp tục hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế; ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương. Phía Hàn Quốc sẽ chia sẻ kinh nghiệm tổ chức APEC 2025, qua đó hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị cho APEC 2027. Phía Mông Cổ tin tưởng Việt Nam sẽ tổ chức thành công APEC 2027 và đề nghị Việt Nam ủng hộ Mông Cổ sớm gia nhập APEC.

9. Đông Bắc Á trước những chuyển động an ninh mới

 

 

Đông Bắc Á là một trong những khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng hàng đầu thế giới, nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ lớn, đồng thời đan xen lợi ích của các nước lớn. Những năm gần đây, cạnh tranh chiến lược gia tăng, các điểm nóng lịch sử chưa được giải quyết, quá trình hiện đại hóa quân sự và sự phát triển nhanh của công nghệ mới đang làm cho môi trường an ninh khu vực diễn biến phức tạp hơn.

Eo biển Đài Loan tiếp tục là một trong những địa bàn nhạy cảm nhất. Hoạt động quân sự và thực thi pháp luật trên biển gia tăng, cùng với việc các bên củng cố năng lực phòng thủ, làm tăng nguy cơ va chạm hoặc tính toán sai. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan trực tiếp đến quan hệ Trung Quốc - Mỹ và an ninh khu vực.

Trên bán đảo Triều Tiên, chương trình hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên, các cuộc tập trận và biện pháp tăng cường răn đe của các bên tiếp tục tạo ra vòng xoáy hành động - phản ứng. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khẳng định các chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Triều Tiên vi phạm nhiều nghị quyết liên quan. Tuy nhiên, bế tắc đối thoại kéo dài cho thấy sức ép đơn thuần khó tạo ra giải pháp bền vững. Yêu cầu đặt ra là khôi phục đối thoại thực chất, thực hiện đầy đủ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an, hướng tới phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, đồng thời quan tâm chính đáng đến hòa bình, an ninh và phát triển của các bên.

Tại biển Hoa Đông, tranh chấp đối với quần đảo mà Nhật Bản gọi là Senkaku, Trung Quốc gọi là Điếu Ngư vẫn tiềm ẩn nguy cơ va chạm giữa lực lượng chấp pháp và quân sự. Tranh chấp Nga - Nhật Bản đối với các đảo ở phía nam quần đảo Kuril cũng diễn biến phức tạp. Ngày 13/8/2026, Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm đảo Etorofu (Nga gọi là Iturup)- một trong các đảo đang tranh chấp giữa Nga và Nhật Bản; Nhật Bản ngay sau đó triệu Đại sứ Nga để phản đối. Diễn biến này cho thấy bất đồng lãnh thổ tiếp tục là nhân tố cản trở việc cải thiện quan hệ Nga - Nhật Bản. Điểm chung của các điểm nóng trên là sự đan xen giữa tranh chấp chủ quyền, ký ức lịch sử, chủ nghĩa dân tộc và cạnh tranh chiến lược; một sự cố nếu không được kiểm soát kịp thời có thể tạo phản ứng dây chuyền vượt khỏi ý định ban đầu của các bên.

Một xu hướng đáng chú ý là các nước trong khu vực đồng loạt điều chỉnh chính sách quốc phòng. Trung Quốc tiếp tục hiện đại hóa quân đội; Nhật Bản tăng cường năng lực phòng vệ và khả năng phản công; Hàn Quốc phát triển công nghiệp quốc phòng và củng cố năng lực răn đe; Triều Tiên đẩy mạnh chương trình hạt nhân, tên lửa; Nga tăng cường hoạt động quân sự tại khu vực Viễn Đông. Theo Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, chi tiêu quân sự tại châu Á và châu Đại Dương năm 2025 đạt 681 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2024. Con số này phản ánh rõ hơn xu hướng tích lũy sức mạnh và tâm lý bất an chiến lược trong khu vực.

Cùng với đó, quá trình tập hợp lực lượng diễn ra rõ hơn. Mỹ tiếp tục củng cố liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc và thúc đẩy phối hợp ba bên; trong tháng 8/2026, quan chức ngoại giao ba nước đã tiến hành các cuộc trao đổi về tình hình Triều Tiên. Quan hệ hợp tác giữa Nga, Trung Quốc và Triều Tiên cũng được tăng cường ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, không nên nhìn cục diện khu vực một cách giản đơn như hai khối đối đầu cố định. Ngày 20/8/2026, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung tiếp Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tại Seoul, trao đổi về quan hệ song phương và tình hình bán đảo Triều Tiên. Sự kiện cho thấy, bên cạnh cạnh tranh và răn đe, nhu cầu duy trì đối thoại, quản lý bất đồng và ổn định quan hệ vẫn hiện hữu. Chính trạng thái vừa hợp tác, vừa cạnh tranh này khiến cục diện Đông Bắc Á có tính linh hoạt, nhưng cũng khó dự báo.

An ninh khu vực ngày càng mở rộng từ lĩnh vực quân sự sang kinh tế, công nghệ, không gian mạng và chuỗi cung ứng. Đông Bắc Á giữ vai trò trung tâm trong sản xuất chất bán dẫn, pin, xe điện, trí tuệ nhân tạo và nhiều công nghệ nền tảng. Vì vậy, kiểm soát công nghệ, dữ liệu, đầu tư và chuỗi cung ứng đang trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược. Việc quân sự hóa công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo, thiết bị không người lái và vũ khí tốc độ cao, có thể rút ngắn thời gian ra quyết định, làm tăng nguy cơ nhận định sai và gây khó khăn cho nỗ lực ngăn ngừa leo thang.

Theo các chuyên gia, trong thời gian tới, khả năng xảy ra xung đột quân sự tổng thể giữa các nước lớn vẫn bị kiềm chế bởi hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của chiến tranh, sức răn đe hạt nhân và mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Dù vậy, nguy cơ xảy ra sự cố cục bộ, va chạm ngoài ý muốn hoặc khủng hoảng không thể xem nhẹ. Thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở sự gia tăng năng lực quân sự, mà còn ở sự suy giảm lòng tin chiến lược và thiếu các cơ chế quản lý khủng hoảng đủ hiệu lực. Bởi vậy, duy trì đối thoại, đường dây liên lạc, minh bạch hoạt động quân sự và kiềm chế hành động làm thay đổi nguyên trạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Những chuyển động tại Đông Bắc Á tác động trực tiếp đến môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ASEAN. Căng thẳng kéo dài có thể gây gián đoạn thương mại, năng lượng, đầu tư và chuỗi cung ứng; đồng thời làm gia tăng sức ép lựa chọn bên đối với các quốc gia vừa và nhỏ. Trong bối cảnh đó, ASEAN cần tiếp tục giữ vững đoàn kết, vai trò trung tâm, phát huy các cơ chế đối thoại do ASEAN dẫn dắt và thúc đẩy cách tiếp cận an ninh bao trùm, minh bạch, dựa trên luật pháp quốc tế.

III. TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

 

 

Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định có 68 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.

Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân vi phạm bị cảnh cáo hoặc phạt tiền; tùy mức độ còn có thể bị tịch thu tang vật, tước chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động hoặc trục xuất người lao động nước ngoài.

Trong lĩnh vực việc làm, hành vi phân biệt đối xử không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc bị phạt từ 5 - 10 triệu đồng; khai thác, chia sẻ hoặc sử dụng trái phép dữ liệu về người lao động và thị trường lao động chưa được công bố bị phạt từ 20 - 40 triệu đồng. Mức phạt từ 50 - 70 triệu đồng áp dụng đối với hành vi gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng chính sách việc làm hoặc cấp chứng chỉ kỹ năng nghề; lợi dụng dịch vụ việc làm xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; mua bán, trao đổi hoặc chiếm đoạt trái phép dữ liệu người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hoạt động dịch vụ việc làm khi chưa được thành lập hợp pháp bị phạt từ 45 - 60 triệu đồng và phải hoàn trả toàn bộ khoản tiền đã thu cùng lãi phát sinh. Trong tuyển dụng, quản lý lao động, hành vi không khai trình việc sử dụng lao động; thu tiền khi tuyển dụng; không lập hoặc xuất trình sổ quản lý lao động bị phạt từ 1 - 3 triệu đồng. Hành vi phân biệt đối xử, sử dụng lao động chưa qua đào tạo làm công việc bắt buộc phải được đào tạo hoặc không thực hiện chế độ báo cáo bị phạt từ 5 - 10 triệu đồng.

Đáng chú ý, hành vi lôi kéo, quảng cáo gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn lừa gạt người lao động; tuyển dụng nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt từ 50 - 75 triệu đồng. Người sử dụng lao động thu tiền trái quy định phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu.

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc, hành vi chậm đóng với số tiền dưới 400.000 đồng tại thời điểm lập biên bản bị cảnh cáo. Việc không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người thuộc diện tham gia bị phạt từ 5 - 75 triệu đồng, tùy số lao động và thời gian vi phạm.

Người sử dụng lao động chậm đóng bảo hiểm xã hội bị phạt từ 12% - 15% tổng số tiền chậm đóng, nhưng không quá 75 triệu đồng. Đối với hành vi trốn đóng, mức phạt từ 6 - 75 triệu đồng; trường hợp kê khai tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định, không đóng hoặc đóng không đầy đủ sau khi đã được đôn đốc, mức phạt bằng 18% - 20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng.

Ngoài tiền phạt, người vi phạm phải đăng ký đầy đủ người tham gia, đóng đủ số tiền còn thiếu và nộp thêm 0,03%/ngày tính trên số tiền, thời gian chậm đóng hoặc trốn đóng. Quy định mới góp phần siết chặt kỷ luật lao động, nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.

Ban Tuyên giáo Thành ủy

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Tin tức sự kiện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0